Trang chủ » Thông tin

Kỹ sư Lê Bền với loài rong nho Nhật Bản

Rong nho biển có nguồn gốc từ Philippines, sau đó du nhập vào Nhật Bản và được người Nhật trồng, chế biến thức ăn như một loại rau xanh từ năm 1986. Tuy nhiên tại xứ sở mặt trời mọc, rong nho phát triển không thuận lợi. Năm 2004, loài rong này được một kỹ sư địa chất Việt Nam mang về nghiên cứu, cải tiến phương pháp trồng và nhân giống thành công, cho ra đời một sản phẩm rong nho có chất lượng cao hơn. Người kỹ sư ấy là ông Lê Bền - Hội viên Hội Khoa học - Kỹ thuật (KH-KT) Khánh Hòa, Phó Giám đốc Công ty TNHH Trí Tín (Nha Trang). Sáng tạo trên đã giúp ông đạt giải khuyến khích trong Hội thi Sáng tạo KH-KT toàn quốc lần thứ 9 (2006 - 2007), đồng thời mở ra triển vọng mới cho nghề trồng rong nho ở Việt Nam.


     
 
Kỹ sư Lê Bền nhận giải thưởng sáng tạo KH-KT toàn quốc lần thứ 9 (2006 - 2007) tại Thủ Đô Hà Nội.
 
° Ý tưởng từ bàn ăn

Sau một đoạn đường dài, ngoằn ngoèo men theo các ao đìa nuôi tôm của người dân xã Ninh Hải (Ninh Hòa), chúng tôi đến thôn Đông Hà - nơi trồng rong nho của ông Lê Bền. Tại đây, chúng tôi tận mắt chứng kiến sự phát triển tươi tốt của loài rong nho được mang về từ Nhật Bản, vốn rất hiếm thấy ở vùng biển Việt Nam. Vừa kiểm tra lại chất lượng rong nho mới thu hoạch, ông Bền vừa kể cho chúng tôi nghe chuyện mình đã bén duyên với nghề trồng rong nho như thế nào. Năm 2004, khi ấy ông Bền còn làm nghề kinh doanh đá granit, trong một bữa cơm thân mật, các đối tác người Nhật Bản tình cờ nhắc đến món rong nho tươi bổ dưỡng, rất được thực khách Nhật ưa chuộng mà họ không tìm thấy trong thực đơn tại các nhà hàng ở Việt Nam. Nghĩ đến những khu đìa bỏ hoang do trước đây nuôi tôm hùm thất bại, ông Bền đã nảy ra ý tưởng mang rong nho Nhật Bản về trồng. Thế là, từ 200 gram rong nho giống mà ông Bền nhờ các đối tác mang từ Nhật Bản sang, ông đã nhân giống trong các bể gương theo tài liệu hướng dẫn. Đến khi có nguồn giống cần thiết, ông bắt đầu mang giống trồng tại các đìa nuôi tôm bỏ hoang. Tuy nhiên, bước đầu do chưa có kinh nghiệm nên công việc không thuận lợi, nhiều lúc khiến ông cảm thấy nản lòng. Chỉ vài ngày sau khi được thả xuống đìa, những cây rong nho giống ít ỏi cứ “không cánh mà bay”, hao hụt gần hết. Sau nhiều đêm soi đèn tìm hiểu, ông tìm ra nguyên nhân: các cây giống đã bị cá và một số loài động vật biển ăn hết. Lúc này, ý tưởng phát triển giống rong nho của ông gần như bị phá sản.
 
° Tìm ra phương pháp trồng mới

Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng ông Bền vẫn không nản chí. Để tránh sự “tấn công” của các loài động vật biển, ông đã nghĩ ra phương pháp trồng cách ly trong các lồng làm bằng lưới. Phương pháp này tuy hạn chế tối đa sự hao hụt, nhưng chi phí cao nên nếu tiếp tục duy trì phương pháp trồng cách ly thì việc kinh doanh sẽ không hiệu quả. Chính vì thế, ông Bền luôn nung nấu ý định phải tìm ra phương pháp trồng rong nho mới. Ở Nhật Bản, rong nho được trồng theo 2 phương pháp cơ bản: Trồng tiếp đáy (rong được trồng trực tiếp xuống đáy biển hoặc đáy ao hồ) và trồng treo (rong được bỏ trong các túi lưới, treo lơ lửng trong nước biển). Ngoài ra, ở một số nơi còn trồng rong trong các bể, hồ làm bằng vật liệu xi măng (rong được thả vào bể có chứa nước biển). Nhưng tất cả các phương pháp trên đều có hạn chế. Nếu trồng tiếp đáy, rong dễ bị bẩn do bị giẫm đạp trong khi thu hoạch. Trồng treo, rong không trực tiếp lấy dưỡng chất từ đáy biển nên phát triển chậm. Nếu trồng trong bể thì chi phí lại quá cao.

Rút kinh nghiệm từ các phương pháp trồng rong nho ở nước ngoài, dựa vào điều kiện khí hậu Việt Nam, ông Bền đã tìm ra phương pháp trồng rong nho mới. Đó là phương pháp trồng kê sàn có lưới che. Theo phương pháp này, rong được trồng trong những khay nhựa, lót ni lông có chứa mùn cát dinh dưỡng. Sau đó, các khay giống được kê trên kệ, sạp đóng bằng tre, gỗ, hoặc xếp bằng gạch, đá nằm chìm dưới đáy đìa; dùng lưới che hoa lan tạo mái che di động để chủ động điều tiết ánh sáng, nhiệt độ của nước biển; kết hợp với guồng đập tạo dòng chảy, tăng lượng oxy. Nhờ thế, rong có điều kiện hấp thu chất dinh dưỡng trong khay, mà không lẫn với tạp chất từ đáy ao hồ, đồng thời lưới che di động có tác dụng khắc phục được khí hậu nắng nóng ở Việt Nam. Mặt khác, với cách làm này, việc thu hoạch rong thuận tiện hơn, chi phí đầu tư thấp nên sản phẩm có tính cạnh tranh cao.

Đặc biệt, sau khi xét nghiệm mẫu rong theo phương pháp trồng mới, các cơ quan chức năng kết luận, rong nho trồng ở Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm và rất giàu chất dinh dưỡng. Từø những kết quả thu được, đề tài nghiên cứu khoa học “Cải tiến phương pháp trồng rong nho cho năng suất cao và chất lượng tốt” của ông Bền đã đạt giải khuyến khích tại Hội thi Sáng tạo KH-KT toàn quốc lần thứ 9 (2006 - 2007). Tuy nhiên, ông Bền cho biết, người Nhật vốn khắt khe trong tiêu chuẩn hàng hóa, đặc biệt là các loại thực phẩm, nên những cơ sở trên vẫn không đủ thuyết phục các đối tác Nhật Bản khi ông chào bán sản phẩm. Vì thế, để kiểm chứng, các đối tác trực tiếp mang sản phẩm về Nhật, test lại. Tuy vậy, với mẫu mang sang cùng với kết quả xét nghiệm, người Nhật vẫn không tin rong nho trồng ở Việt Nam có thể tốt hơn nhiều lần so với rong nho được trồng ở Nhật Bản. Các đối tác người Nhật còn cử chuyên gia sang tận nơi trực tiếp giám sát toàn bộ quy trình nuôi trồng cũng như sơ chế. Lúc đó, kết quả mới được thừa nhận. “Theo tôi, ở Việt Nam đã có một phương pháp trồng rong nho rất tốt. Sau khi trồng 20 ngày, rong nho đạt chiều dài khoảng từ 10 đến hơn 20cm; còn ở Okinawa (Nhật Bản), chiều dài của rong chỉ đạt khoảng 6 - 7cm. Hơn nữa, chi phí đầu tư ở Việt Nam thấp nhưng năng suất sản phẩm lại cao; còn ở Nhật thì ngược lại. Tuy chất lượng sản phẩm rong ở Nhật sạch nhưng chiều dài cọng rong ngắn, trái rong nhỏ, màu sắc nhạt và mùi vị ít ngon; còn rong ở Việt Nam cọng dài trái to, màu sắc đẹp hơn và mùi vị cũng ngon hơn” - anh Yamacuchi, kỹ sư Nhật Bản giám sát quy trình nuôi trồng và sơ chế rong nho tại cơ sở trồng rong nho của ông Bền, nhận xét. Từ kết quả này, con đường xuất khẩu rong nho sang thị trường Nhật bắt đầu được mở rộng. Tuy nhiên, trước khi xuất sang thị trường khó tính này, rong nho phải được sơ chế rất cẩn thận và công phu. Sau khi thu hoạch, rong nho được nhặt thành từng đoạn nhỏ khoảng 6 - 7cm, cho vào bể nước lọc sạch chất bẩn. Sau đó, cho vào máy quay ly tâm làm ráo nước và chọn những cọng đạt chất lượng để đóng gói. Rong nho thành phẩm có 2 loại: rong tươi (thời gian sử dụng từ7-10 ngày) và rong muối (thời gian sử dụng từ 6-12 tháng). Ngoài chức năng làm thực phẩm, rong nho còn làm mặt nạ chăm sóc da. Sản phẩm này hiện có bán tại Công ty TNHH Trí Tín (35 Võ Trứ, Nha Trang).

Theo kỹ sư Lê Bền, rong nho trồng ở Việt Nam năng suất bình quân 30 tấn/ha/năm, gấp 2 lần so với rong nho trồng ở Nhật Bản, nhưng chi phí lại thấp hơn 10 lần, giá bán sản phẩm cao (từ 8 - 10 USD/kg rong tươi). Rong nho cũng rất dễ trồng, từ khi trồng đến khi thu hoạch chỉ 15 - 20 ngày. Nông dân chỉ cần học qua các kiến thức cơ bản là có thể trồng được. Mặt khác, rong nho cũng rất thích hợp với điều kiện tự nhiên ở các vùng biển Việt Nam. Vì vậy, phát triển mô hình trồng rong nho ở những vùng đảo thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh như Hoàng Sa, Trường Sa là việc làm cần thiết.
Hy vọng, những thành quả bước đầu trong việc nghiên cứu và nuôi trồng rong nho của kỹ sư Bền sẽ là tiền đề phát triển nghề trồng rong nho ở Việt Nam sau này. Và từ đây, thực đơn của người Việt sẽ có thêm nhiều món ngon, bổ dưỡng được chế biến từ rong nho “made in Viet Nam”.
 
                                                                                                                      Báo Khánh Hòa.
xem 10272 lần BackPrintTop